Protect Your Business Against Bad Debt Expense

Nợ xấu là gì? Phương pháp xóa sổ nợ xấu và bảo vệ doanh nghiệp

Về cơ bản, nợ xấu là khonar phải thu không thể thu hồi: một chi phí phát sinh khi khách hàng mà doanh nghiệp đã cấp tín dụng không còn khả năng hoặc không sẵn lòng thanh toán.

Quản lý dòng tiền là huyết mạch của cá doanh nghiệp; vì vậy bất kỳ yếu tốt nào làm giảm dòng tiền đều có thể gay nguy hiểm cho hoạt động kinh doanh, thậm chí đe dọa sự tồn tại của doanh nghiệp. Doanh nghiệp nào cấp tín dụng thương mại cho khách hàng đều đối mặt với nguy cơ dòng tiền chậm lại hoặc sụt giảm nếu các khoản tín dụng đó trở thành nợ xấu. Mặc dù chi phí nợ xấu thường ở một mức độ nhất định thường khó tránh khỏi, doanh nghiệp hoàn toàn có thể thực hiện các biện pháp để giảm thiểu tối đa rủi ro nợ xấu.

Khi một khách hàng mất khả ăng thanh toán hoặc không thanh toán, doanh nghiệp cấp tín dụng cho khách hàng đó sẽ đối mặt với chi phí nợ xấu. Chi phí nợ xấu phản ánh giá trị khoản phải thu mà doanh nghiệp không thể thu hồi và có thể sẽ không thu hồi được trong tương lai. Vì chi phí nợ xấu phải được ghi giảm khỏi khoản phải thu của doanh nghiệp, chi phí này làm giảm giá trị khoản phải thu trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.  

Có rất nhiều ví dụ về cách doanh nghiệp đối phó với chi phí nợ xấu. Một doanh nghiệp đã thay đổi cách tiếp cận quản lý nợ xấu sau khi hai khách hàng lớn không thể thanh toán hóa đơn đã khiến doanh nghiệp chịu tổn thất hàng chục nghìn đô la. Tệ hơn nữa, doanh nghiệp đã dành nguồn nhân lực và tài nguyên đáng kể để truy đòi các khoản nợ đó trong vô vọng. Bằng cách mua bảo hiểm tín dụng thương mại, doanh nghiệp không những bảo vệ mình trước tổn thất nợ xấu trong tương lại mà còn có thể tận dụng sự bảo vệ này như đòn bẩy nhằm mở rộng thị trường với các khách hàng mới.

Nợ xấu có phải là chi phí không?

Chi phí nợ xấu thường được coi là một khoản chi phí vận hành, nằm trong nhóm chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp. Chi phí này làm giảm lợi nhuận thuần của doanh nghiệp trong cùng kỳ báo cáo mà doanh thu tương ứng được ghi nhận.

Chi phí nợ xấu được tính trên tỷ lệ phần trăm tổng giá trị khoản phải thu. Để tính chi phí nợ xấu, lấy tổng gá trị khoản phải thu chia cho tổng giá trị nợ xấu, sau đó nhân kết quả với 100. Ví dụ, một doanh nghiệp có tổng khoản phải thu là 1 tỷ đồng và nợ xấu là 50 triệu đồng sẽ tính như sau:

 

$1.000.000 ÷ $50.000 = 0,05

Để chuyển giá trị sang phần trăm, lấy giá trị nhân với 100

0,05 x 100 = 5%

Trong ví dụ này, chi phí nợ xấu chiếm 5% tổng giá trị khoản phải thu.

Một trong những cách quản lý chi phí nợ xấu hiệu quả nhất là sử dụng chi phí này để theo dõi khoản phải thu, bao gồm nợ hiện tại và nợ tiềm ẩn trong tương lại ở toàn danh mục và từng khoản khách hàng cụ thể. Bằng cách thiết lập các ngưỡng cảnh báo cho nợ hiện tại và nợ tiềm ẩn, doanh nghiệp có thể chủ động xử lý và phòng ngừa chi phí nợ xấu trước khi vượt qua tầm kiểm soát.

Thông thường, phương pháp dự phòng được ưu tiên khi hạch toán chi phí nợ xấu. Tuy nhiên, cần hiểu rõ sự khác biệt giữa hai phương pháp và lý do phương pháp dự phòng được coi là phương pháp phản ảnh cân đối kế toán chính xác hơn.

Phương pháp xóa sổ trực tiệp

Khi báo cáo chi phí nợ xấu, doanh nghiệp có thể sử dụng phương pháp xóa sổ trực tiếp hoặc phương pháp dự phòng. Phương pháp xóa sổ trực tiếp ghi nhận nợ xấu vào báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh tại thời điẻm tài khoản khách không trả được thực sự bị xóa sổ, đôi khi nhiều tháng sau khi giao dịch tín dụng phát sinh. Kế toán doanh nghiệp sau đó lập bút toán ghi nợ tài khoản chi phí nợ xấu và gh có tài khoản các khoản phải thu.

Nhìn chung, bộ phận kế toán không áp dụng phương pháp xóa sổ trực tiếp cho chi phí nợ xấu, vì bản cân đối kế toán của doanh nghiệp sẽ có xu hướng phản ánh giá trị lơn hơn giá trị có thể thu hồi, và chi phí nợ xấu có thể được ghi nhận vào báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp vào năm sau khi phát sinh doanh thu. Thay vào đó, kế toán thường áp dụng phương pháp dự phòng. 

Phương pháp dự phòng

Theo phương pháp dự phòng, kế toán lập bút toán điều chỉnh vào cuối mỗi kỳ dựa trên tước tính tổn thất dự kiến. Vào mỗi cuối năm, các doanh nghiệp thường rà soát các khoản phải thu khó đòi và ghi có khoản tương ứng vào tài khoản các khoản phải thu. Kế toán ghi nợ khoản đó vào tài khoản chi phí nợ xấu và ghi có vào tài khoản điều chỉnh giảm tài sản được gọi là dự phòng các khoản phải thu khó đòi.

Khi kế toán cuối cùng xóa sổ một khoản phải thu là không thể thu hồi, họ sau đó ghi nợ tài khoản dự phòng các khoản phải thu và ghi có khoản tương ứng vào tài khoản các khoản phải thu. Việc áp dụng phương pháp nay cho phép ghi nhận chi phí nợ xấu gần hơn với thời điểm phát sinh giao dịch thực tế, đồng thời giúp bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp phản ánh giá trị thuần thực tế của tài khoản các khoản phải thu. 

Nợ xấu gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng đến hoạt động doanh nghiệp. Mặc dù một hoặc hai khoản nợ xấu mang giá trị nhỏ có thể không gây ra nhiều tác động, các khoản nợ lớn hoặc nhiều tài khoản không thanh toán sẽ dẫn đến thổn thất đáng kể, thậm chí làm tăng nguy cơ phá sản. Ngoài ra, nợ xấu còn hiến quy trình kế toán trở nên phức tạp hơn và tiêu tốn nhiều thời gian, nhân lực của doanh nghiệp trong quá trình truy đòi mà thường không mang lại kết quả tốt.

Mặc dù doanh nghiệp khó có thể hoàn toàn tránh khỏi chi phí nợ xấu, doanh nghiệp có thể tự bảo vệ bản thân thông qua nhiều biện pháp, chẳng hạn như lập dự phòng nợ xấu. Ngoài ra, doanh nghiệp có thể thiết lập các hạn mức tín dụng phù hợp khi cấp tín dụng cho khách hàng nhằm giảm thiểu rủi ro chi phí nợ xấu. Các hạn mức này có thể áp dụng để quản lý nợ xấu hiện tại và tiềm ẩn cũng như dựa trên từng khách hàng cụ thể. Ví dụ, doanh nghiệp có thể siết chặt điều khoản tín dụng dựa trên tình trạng thực tế của từng khách hàng. Trong một số trường hợp, doanh nghiệp có thể từ chối cấp tín dụng hoàn toàn bằng cách yêu cầu người mua cung cấp thư tín dụng (L/C) bảo đảm thanh toán hoặc thanh toán trước khi giao hàng.

Doanh nghiệp, trong một số trường hợp, cũng có thể cân nhắc thay đổi các tiêu chí xét duyệt tín dụng cho khách hàng. Ví dụ, khách hàng thuộc một ngành hoặc vị trí địa lý nhất định đang gặp khó khăn, doanh nghiệp có thể yêu cầu những khách hàng này đáp ứng các điệu kiện chặt chẽ hơn trước khi được cấp tín dụng. Chiến lược tương tự cũng có thể áp dụng để quản lý tín dụng đối với các khách hàng có dự nợ vượt quá một ngưỡng nhất định hoặc quá hạn thanh toán trong một khoảng thời gian nhất định

Bảo vệ trước nợ xấu có thể giúp hạn chế một phần tổn thất khi khách hàng mất khả năng thanh toán. Tuy nhiên, doanh nghiệp không thể được bảo vệ hoàn toàn trước tất cả các loại tổn thất.

Doanh nghiệp có thể mua bảo vệ tài khoản nợ xấu để nhận bồi thường khi khách hàng mất khả năng thanh toán. Tuy nhiên, vì có nhiều nguyên nhân khác khiến khách hàng không thanh toán ngoài tình trạng mất khả năng thanh toán, loại hình bảo vệ tài khoản nợ xấu này có phạm vi ứng dụng khá hạn chế đối với phần lớn doanh nghiệp.

Nếu bảo vê nợ thôn thường không đáp ứng được nhu cầu cùa doanh nghiệp bảo hiểm tín dụng thương mại là lựa chọn tối ưu thay thế, cung cấp phạm vi bảo hiểm cho tình trạng khách hàng không thanh toán trong nhiều hoàn cảnh khác nhau.

Bảo hiểm thương mại tín dụng hàng đầu còn cung cấp dữ liệu và thông tin tín dụng giúp doanh nghiệp nâng cao chất lượng quyết định và quản lý tín dụng thương mại. Mục tiêu là phòng ngừa tổn thất nợ xấu. Chính vì không doanh nghiệp nào có thể tránh khỏi nợ xấu hoàn toàn, bảo hiểm tín dụng thương mại được thiết lập để bồi thường cho mọi tổn thất xảy ra ngay cả sau khi doanh nghiệp và công ty bảo hiểm đã thực hiện các biện giảm thiểu rủi ro.

Trong khi bảo vệ nợ xấu thông thương chỉ bảo hiểm “tổn thất do khách hàng mất khả năng thanh toán,” bảo hiểm tín dụng thương mại bao gồm vả “vi phạm kéo dài,” tức là khi một doanh nghiệp vẫn còn khả năng thanh toán nhưng châm trễ hoặc đơn giản là từ chối thanh toán. Một nhà bảo hiểm bảo hiểm tín dụng thương mại chuyên biệt lớn cũng có thể tùy chỉnh đơn bảo hiểm để bao gồm nhiều tình huống rủi ro khác, bao gồm:

  1. Hóa đơn chưa thanh toán do thảm họa thiên nhiên
  2. Hóa đơn chưa thanh toán do rủi ro chính trị; ví dụ, khi hoạt động kinh doanh tại các quốc gia khác
  3. Tổn thất phát sinh do các vấn đề trước hàng hóa được giao; ví dụ, hàng hóa sản xuất theo đơn đặt riêng không thể bán lại cho khách hàng khác
  4. ổn thất phát sinh sau khi hàng được vận chuyẻn bởi bên thứ ba
  5. Tổn thất phát sinh khi bán hành theo hình thức ký gửi

 

Mặc dù chi phí nợ xấu có thể gây tổn hại nghiêm trọng đến sự phát triển bền vững của doanh nghiệp, vẫn có nhiều cách để quản lý chi phí này và giảm thiểu các rủi rỏ liên quan. Bảo hiểm tín dụng thương mại cung cấp pham vi bảo hiểm rộng cho các tổn thất từ nợ xấu, đồng thời trang bị cho doanh nghiệp các cộng cụ và hỗ trợ chuyên biệt để quản lý các khoản phải thu hiệu quả hơn.